Thứ nhất, định hướng lại ngân hàng với chức năng đích thực của nó. Từ đầu năm 2011, NHNN lần đầu tiên đưa ra khái niệm chính sách tiền tệ linh hoạt chặt chẽ. Người ta nhận thấy lãnh đạo ngành ngân hàng đã có các ưu tiên khá hợp lý, xử lý các nguyên nhân sâu xa của tỉnh trạng kém thanh khoản (biểu hiện là đua lãi suất) của một số NHTM và đưa hệ thống ngân hàng về với đúng chức năng của nó là kênh dẫn vốn từ khu vực tiết kiệm đến khu vực sản xuất kinh doanh - nơi cần vốn thực sự.
Thứ hai, kết hợp chính sách quản lý vĩ mô truyền thống và phi truyền thống. Từ 2011 trở lại đây, ta nhận thấy NHNN đã có một vài chính sách khá độc đáo như độc quyền nhập khẩu và phân phối vàng miếng trong nước cho các NHTM - đó có thể coi là chính sách tiền tệ phi truyền thống mà NHNN đã thực hiện trong thời gian qua. Trên góc độ khác, có thể nói chủ trương đóng cửa sản vàng và NHNN độc quyền nhập khẩu vàng, phân phối vàng miếng và thể hiện sự rất can đảm, quyết đoán của Chính phủ và ngươi lãnh đạo ngành ngân hàng. Việc độc quyền nhập khẩu vàng, phân phối vàng miếng của NHNN đã làm lợi rất nhiều cho chính sách ổn định thanh khoản ngân hàng.
Thứ ba, minh bạch hóa chính sách tiền tệ, ngân hàng và đẩy mạnh truyền thông chính sách. Truyền thông chính sách tiền tệ là điểm mới trong hoạt động của NHNN trong thời gian vừa qua. Quan sát thời gian qua cho thấy, NHNN đã ngày càng quan tâm và tiến hành tốt hơn công tác truyền thông CSTT. Các quan điểm và các chỉ số về tiền tệ ngân hàng như: dư nợ tín dụng, tình hình nợ xấu, dự trữ ngoại hối chính thức cũng như nội dung các cuộc họp CSTT đã được NHNN chủ động công bố rất đều đặn. Trên góc độ quản lý kinh tế vĩ mô hay quản lý nhà nước, sự công khai, minh bạch chính sách vĩ mô thể hiện chủ trương tăng cường quản lý giám sát toàn dân đối với điều hành chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước - chủ trương đang được thể hiện trong sửa đổi hiến pháp vừa qua của Việt Nam là tăng cường quyền lực cho nhân đân.
Thứ tư, khẳng định lại: "chất lượng hơn số lượng". Từ năm 2012 và cả năm 2013 hay 2014, cho dù các sức ép của dư luận rất mạnh mẽ, nhưng NHNN vẫn khá kiên định giữ quan điểm duy trì tăng trưởng tín dụng ở mức khá thấp so với các năm trước và đặc biệt chú trọng định hướng tín dụng vào khu vực sản xuất thực sự. Lần đầu tiên trong lịch sử ngân hàng, khái niệm hạn chế tăng trưởng tín dụng ở mức thấp dưới 16% được xã hội đón nhận một cách đầy khó khăn và thách thức.
Thứ năm, ứng phó hợp lý với vốn ngoại vào hay nguồn ngoại tệ. Những năm gần đây, NHNN đã ứng phó tốt với nguồn vốn ngoại tệ, NHNN đã mua được ngoại tệ đáng kể cho tăng dự trữ ngoại hối lên tới mức kỷ lục là trên 35 tỷ USD (2014) nhưng không hề để lại nguy cơ lạm phát. Công cụ "can thiệp trung hòa" đã được NHNN sử dụng khá linh hoạt và khôn ngoan.
Thứ sáu, cơ cấu lại khu vực ngân hàng-phân bổ chi phí hợp lý, hạn chế gắng nặng nợ công đảm bảo kỷ luật chính sách tiền tệ và kỷ luật thị trường. Chính phủ và NHNN đã có rất nhiều giải pháp quyết liệt, độc đáo nhưng cũng rất bài bản, phù hợp, cụ thể như: cơ cấu lại khu vực các tổ chức tín dụng với các nguyên tắc hạn chế mức thấp nhất chi phí từ NSNN, khuyến khích các tổ chức tự nguyện sáp nhập… Đặc biệt là việc thành lập Cty quốc gia về mua bán nợ của tổ chức tín dụng VN.
Dù vậy, vẫn còn những thách thức cho năm 2015 và những năm tiếp là vượt qua các sức ép hiện nay để tiếp tục duy trì và củng cố các thành tựu ban đầu đã đạt được của năm 2013 và năm 2014. Những thách thức cụ thể là làm thế nào để tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ cẩn trọng, khôn khéo mà không bị lệ thuộc vào các sức ép nới lỏng tiền tệ quá sớm; đảm bảo tiến hành tái cơ cấu khu vực ngân hàng và phân bổ các chi phí tái cơ cấu một cách có kỷ luật, không vội vàng mà hợp lý, nhằm hạn chế các chi phí từ NSNN nhưng cũng không phá vỡ chính sách tiền tệ mà vẫn duy trì được kỷ cương thị trường; duy trì quan điểm điều hành chính sách tiền tệ ngân hàng minh bạch, công khai có sự kiểm soát, giám sát toàn dân và vì lợi ích của toàn dân. Các bài học 2 năm vừa qua không chỉ là bài học cho ngành ngân hàng mà có thể là bài học cho điều hành kinh tế vĩ mô nói chung trong thời gian tới.
Thạc sĩ Lê Văn Hinh
Chuyên gia độc lập